Quantcast
Sống tốt cho môi trường là sống tốt cho chính mình! Đề cương ôn thi Trung cấp chính trị môn: Nhà nước và Pháp luật - Giải Pháp Môi Trường - Sống tốt cho môi trường là sống tốt cho chính mình!

Đề cương ôn thi Trung cấp chính trị môn: Nhà nước và Pháp luật

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

I. Lý thuyết :

câu 1. Vị trí pháp lý của UBND ? Xuất phát từ việc Hội đồng nhân dân xã M – Huyện K ra nghị quyết trái với qui định của Pháp luật, Uỷ ban nhân dân xã căn cứ vào nghị quyết đó của Hội đồng nhân dân  nên cũng ra quyể định quản lý trái với qui định của Pháp luật. Phát hiện được hai văn bản trái pháp luật đó , chủ tịch UBND huyện K đã ra quyết định bãi bỏ hai văn bản đó.

Đồng chí có nhận xét gì về quyết định của chủ tịch UBND huyện K đã ra quyết định bãi bỏ hai văn bản đó

Trả lời:

Vị trí pháp lý của UBND được qui định bởi điều 123 hiến pháp năm 1992 của quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam như  sau :

Điều 123 ( Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992)

Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của các cơ quan Nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân.

Chức năng của UBND  được thể hiện ở LUẬT TỔ CHỨC

HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ UỶ BAN NHÂN DÂN Ngày 26 Tháng 11 năm 2003

Điều 2

Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên.

Uỷ ban nhân dân chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp nhằm bảo đảm thực hiện chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn.

Uỷ ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, góp phần bảo đảm sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương tới cơ sở.

Đối với những nơi không tổ chức Hội đồng nhân dân cấp thành phố thì được qui định tại điều 9 nghị quyết 725/2009 UBTVQH khóa 12 ngày 16 tháng 1 năm 2009 của Uỷ ban thường vụ quốc hội khóa 12 .

Điều 9.

Uỷ ban nhân dân huyện, quận nơi không tổ chức Hội đồng nhân dân là cơ quan hành chính nhà nước trực thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Uỷ ban nhân dân phường nơi không tổ chức Hội đồng nhân dân là cơ quan hành chính nhà nước trực thuộc Uỷ ban nhân dân quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

Chức năng theo điều 9 nghị quyết nêu trên thì : Uỷ ban nhân dân phường nơi không tổ chức Hội đồng nhân dân là cơ quan hành chính nhà nước trực thuộc Uỷ ban nhân dân quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; quyết định các chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh trên địa bàn theo quy định của pháp luật và phân cấp của Uỷ ban nhân dân cấp trên; bảo đảm sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở.

Nhận xét về quyết định của chủ tịch UBND Huyện K thì :

Theo quyết định tại khoản 4 điều 127 Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và UBND sửa đổi thì :

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

khoản 4. Đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ những văn bản trái pháp luật của cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp mình và văn bản trái pháp luật của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp dưới trực tiếp;

kho ản 5. Đình chỉ việc thi hành nghị quyết trái pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp và đề nghị Hội đồng nhân dân cấp mình bãi bỏ;

Theo qui định tại khoản1 điều 11 Luật bản hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND và UBND năm 2004 thì : Văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân ban hành chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ, bãi bỏ bằng văn bản của chính Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân đã ban hành văn bản đó hoặc bị đình chỉ việc thi hành, hủy bỏ, bãi bỏ bằng văn bản của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền.

Theo qui định tại mục B khoản 2 điều 11 nghị quyết 725/2009 UBTVQH khóa 12 ngày 16 tháng 1 năm 2009 của Uỷ ban thường vụ quốc hội khóa 12 thì. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện nơi không tổ chức Hội đồng nhân dân thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 127 của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân và các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

“ Đình chỉ việc thi hành nghị quyết trái pháp luật của Hội đồng nhân dân xã, thị trấn và kiến nghị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh để đề nghị Hội đồng nhân dân cấp tỉnh bãi bỏ”
Như vậy theo các qui định nêu trên thì chủ tịch UBND Huyện K khi phát hiện được 2 văn bản trái pháp luật của HĐND và UBND đã ra quyết định bãi bỏ 2 văn bản đó là trái qui định của pháp luật.

Phương hướng giải quyết

Chủ tịch UBND Huyện K phải ra quyết định huỷ bỏ quyết định của mình đã ban hành về vụ việc nêu trên , đồng thời ra quyết định bãi bỏ quyết định của UBND xã M

Đối với có tổ chức hội đồng nhân thì chủ tịch UBND Huyện K phải ra quyết định đình chỉ nghị quyết trái pháp luật của HĐND xã M và đề nghị HĐND cùng cấp bãi bỏ nghị quyết trái pháp luật đó.

Đối với những nơi không tổ chức HĐND thì chủ tịch UBND Huyện K phải ra quyết định đình chỉ việc thi hành nghị quyết trái pháp luật của HĐND xã M và kiến nghị với chủ tịch UBND cấp Tỉnh để đề nghị HĐND cấp tỉnh bãi bỏ nghị quyết trái pháp luật đó.

Câu 2: Nguyễn Văn A là người chưa thành niên nhiều lần có hành vi trộm cắp vặt , lừa đảo , đánh bạc nhỏ , gây rối trật tự công cộng thì có thể bị xử lý hành chính như thế nào ?

Trả lời : The qui định tại Điều 7 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính được sửa đổi thì :

Điều 7. Xử lý người chưa thành niên vi phạm hành chính

1. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi vi phạm hành chính thì bị phạt cảnh cáo.

Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi vi phạm hành chính thì có thể bị áp dụng hình thức xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Điều 12 của Pháp lệnh này. Khi phạt tiền đối với họ thì mức tiền phạt không được quá một phần hai mức phạt đối với người thành niên; trong trường hợp họ không có tiền nộp phạt thì cha mẹ hoặc người giám hộ phải nộp thay.

2. Người chưa thành niên có hành vi vi phạm pháp luật được quy định tại khoản 2 Điều 23, khoản 2 Điều 24, điểm b khoản 2 Điều 26 của Pháp lệnh này thì bị xử lý theo quy định tại các điều khoản đó.

3. Người chưa thành niên vi phạm hành chính gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Và qui định tại mục B khoản 2 Điều 23 của pháp lệnh nêu trên thì :

Điều 23. Giáo dục tại xã, phường, thị trấn

2. Đối tượng bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn bao gồm:

b) Người từ đủ 12 tuổi trở lên nhiều lần có hành vi trộm cắp vặt, lừa đảo nhỏ, đánh bạc nhỏ, gây rối trật tự công cộng;

3. Thời hiệu áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn là sáu tháng, kể từ khi thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm a hoặc kể từ khi thực hiện lần cuối hành vi vi phạm quy định tại các điểm b và c khoản 2 Điều này; thời hiệu nói trên cũng được áp dụng đối với trường hợp quy định tại điểm d khoản 2 Điều này, kể từ khi thực hiện lần cuối hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 25 của Pháp lệnh này.

4. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức thực hiện biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; phối hợp với cơ quan, tổ chức hữu quan tại cơ sở và gia đình quản lý, giáo dục các đối tượng này.

5. Bộ Công an thống nhất chỉ đạo việc thực hiện biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

Theo qui định tại mục C khoản 2 điều 24 pháp lệnh nêu trên thì : đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng là :

Điều 24. Đưa vào trường giáo dưỡng

2. Đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng bao gồm:

b) Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng quy định tại Bộ luật Hình sự mà trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú nhất định;

3. Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng được quy định như sau:

a) Một năm kể từ khi thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 2 Điều này;

b) Sáu tháng kể từ khi thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm b hoặc kể từ khi thực hiện lần cuối một trong những hành vi vi phạm quy định tại điểm c khoản 2 Điều này.

4. Bộ Công an thành lập các trường giáo dưỡng theo khu vực; trong trường hợp địa phương có nhu cầu thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh) đề nghị Bộ Công an thành lập Trường giáo dưỡng tại địa phương mình.

Từ những qui định nêu trên cho thấy nguyễn văn A là người chưa thành niên nhiều nlần có hành vi trộm cắp vặt , lừa đảo , đánh bạc nhỏ , gây rối trật tự công cộng thì có thể bị xử lý hành chính như sau :

  1. Nếu Nguyễn Văn A là người đủ 14 tuổi đến chưa đủ 16 tuổi có hành vi nếu trên thì có thể áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo.
  2. Nếu Nguyễn Văn A là người đủ 16 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi có hành vi nếu trên thì có thể áp dụng hình thức xử phát cảnh cáo hoặc phạt tiền. Khi áp dụng hình thức phạt tiền đối với Nguyễn Văn A thi mức phạt không được vượt quá 1/2 mức phạt đối với người đã thành niên trong trường hợp A không có tiền nộp phạt thì cha mẹ hoặc người giám hộ phải nộp phạt thay.

(Pháp luật Việt Nam qui định về Người được giám hộ lnhư sau:

  • Người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, bị tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên đó và nếu cha, mẹ có yêu cầu;
  • Người mất năng lực hành vi dân sự.

Người giám hộ đương nhiên

  • Người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên theo thứ tự là: cha, mẹ hoặc anh cả, chị cả, hoặc anh, chị em ruật tiếp theo, hoặc ông, bà nội ngoại, bác, chú, cậu, cô, dì.
  • Người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự theo thứ tự là: chồng, vợ, hoặc con cả, người con tiếp theo, hoặc cha, mẹ.)

Ngoài các hình thức xử phạt nêu trên thì Nguyễn Văn A còn có thể bị chủ tịch UBND xã , phường, thị trấn quyết định biện pháp giáo dục tại xã , phường , thị trấn . Nếu trước đó Nguyễn Văn A đã bị áp dụng biện pháp này hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này  nhưng không có nơi cư trú nhất định thì Nguyễn Văn A có thể bị chủ tịch UBND Huyện , Quận , Thị xã , Thành phố trực thuộc Tỉnh quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng)

  1. Nếu Nguyễn Văn A đủ 12 đến chưa đủ 14 tuổi thực hiện các hành vi nêu trên thì có thể bị chủ tịch UBND xã, phường , thị trấn quyết định  áp dụng biện pháp giáo dục tại UBND xã, phường , thị trấn
  2. Nếu Nguyễn Văn A vi phạm hành chính gây thiệt hại cho người khác thì phải bồi thường theo qui định của pháp luật ( Qui định tại điều 40 Luật hôn nhân và gia đình , Điều 641 Luật Dân sự)

Câu 3 : Tại sao khẳng định “ Tăng cường công tác phổ biến giáo dục pháp luật là một biện pháp tăng cường pháp chế “ ? Liên hệ công tác phổ biến giáo dục pháp luật tại địa phương ?

Trả lời :

Khái niệm về pháp chế XHCN : “Pháp chế XHCN là chế độ đặc biệt của đời sống chính trị – xã hội, trong đó mọi cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, nhân viên nhà nước, nhân viên của các tổ chức xã hội và mọi công dân đều phải tuân thủ pháp luật một cách nghiêm chỉnh, triệt để, chính xác.”

Khái niệm pháp luật XHCN  :Là hệ thô ng các quy tắc xử sự, là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội do Nhà nước XHCN ban hành, thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền và được thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước XHCN.

Mối quan hệ giữa pháp chế XHCN và pháp luật XHCN  là hai khái niệm gần gũi nhưng không đồng nhất

Pháp luật là hệ thống quy phạm do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Còn pháp chế là phạm trù thể hiện những yêu cầu , đòi hỏi các chủ thể tôn trọng và thực hiện đúng pháp luật. Như vậy , pháp luật là tiền đề của pháp chế . Nhưng có pháp luật chưa hẳn có pháp chế . Pháp luật ban hành ra  mà không được tuân thủ , thi hành hoặc dù nó được thi hành nhưng pháp luật ấy có nhiều thiếu sót , mâu thuẫn thì xã hội sẽ rơi vào tình trạng vô pháp chế , trật tự kỷ cương trong xã hội sẽ bị đảo lộn. Hậu quả xã hội không thể phát triển một cách bình thường, các quyền và lợi ích của công dân không được tôn trọng và đảm bảo. Kết luận có thể rút ra là : Pháp luật chỉ có hiệu lực thực sự khi nó dưa trên cơ sở vững chắc của nền pháp chế và ngược lại pháp chế chỉ có thể củng cô và tăng cường khi xã hội có được hệ thống pháp luật tương đối hoàn chỉnh, đồng bộ phù hợp và kịp thời.

Từ những vấn đề nêu trên cho thầy pháp chế là phạm trù đòi hỏi các chủ thể pháp luật phải tôn trọng , tự giắc thực hiện nghiêm chỉnh , chỉnh xác , triệt để  pháp luật xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện được điều đó thì yếu tố vô cùng quan trọng là đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật trong nhân dân nhằm nâng cao ý thức pháp luật trong xã hội. Làm cho mọi người hiểu biết và đi đến tự giác thực hiện pháp luật. Chính vì lẽ đó mà khẳng định tăng cường công tác giáo dục phổ biến pháp luật là một biện pháp tăng cường pháp chế XHCN như ở nước ta hiện nay.

Hiện nay ở địa phương công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục thực hiện khá tốt có tác dụng lan toả đến mọi người dân để thực hiện các qui định pháp luật làm cho ý thức pháp luật của nhân dân được nâng lên :

Về hình thức  tuyên truyền : Địa phương đưa thông tin tuyên truyền trên loa , đài , các bảng tin ở các khu dân cư , băng rôn , khẩu hiệu , tờ rơi ,pano , áp phích.. các cuộc họp có tuyên truyền viên báo cáo.

Về nội dung tuyên truyền : Các qui định pháp luật có thể ví dụ :

Việc yêu cầu bắt buộc đội mũ bảo hiểm  vào ngày 15/09/2007 theo nghị quyết 32/2007 /NQ_CP

Việc doanh nghiệp bắt buộc sử dụng hóa đơn  tự in từ 1/1/2011 theo nghị định 51/2010/CP

Kết quả thu được : Qua việc tuyên truyền sâu rộng đến mọi tầng lớp nhân dân lên tỷ lệ đội mũ bảo hiểm trong nhân dân đã tăng lên đạt >90% số người sử dụng môtô xe máy…

Qua các ví dụ nêu trên có thể nói rằng“ Tăng cường công tác phổ biến giáo dục pháp luật là một biện pháp tăng cường pháp chế “

Câu 4 : Thế nào là công chức ? Các nghĩa vụ của công chức ? Cán bộ , công chức có được góp vốn vào các doanh nghiệp , hợp tác xã không ? tại sao ?

Trả lời :

Theo qui định khoản 2 điều 4 Luật Công chức năm 2008 thì : Công chức Việt Nam là

Điều 4. Cán bộ, công chức

khoản 2. Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.

Theo qui định khoản 3 điều 4 luật cán bộ công chức nêu trên thì :

Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị – xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước

Điều 8,9,10 Luật cán bộ công chức qui định về nhiệm vụ của cán bộ công chức đối với Đảng , Nhà nước,Nhiệm vụ cán bộ công chức khi thi hành nhiệm vụ và nhiệm vụ cán bộ công chức đối với người đứng đầu qui định như sau :

NGHĨA VỤ CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC

Điều 8. Nghĩa vụ của cán bộ, công chức đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân

1. Trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ danh dự Tổ quốc và lợi ích quốc gia.

2. Tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân.

3. Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân.

4. Chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Điều 9. Nghĩa vụ của cán bộ, công chức trong thi hành công vụ

1. Thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao.

2. Có ý thức tổ chức kỷ luật; nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị; báo cáo người có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ bí mật nhà nước.

3. Chủ động và phối hợp chặt chẽ trong thi hành công vụ; giữ gìn đoàn kết trong cơ quan, tổ chức, đơn vị.

4. Bảo vệ, quản lý và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài sản nhà nước được giao.

5. Chấp hành quyết định của cấp trên. Khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật thì phải kịp thời báo cáo bằng văn bản với người ra quyết định; trường hợp người ra quyết định vẫn quyết định việc thi hành thì phải có văn bản và người thi hành phải chấp hành nhưng không chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành, đồng thời báo cáo cấp trên trực tiếp của người ra quyết định. Người ra quyết định phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình.

6. Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

Điều 10. Nghĩa vụ của cán bộ, công chức là người đứng đầu

Ngoài việc thực hiện quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật này, cán bộ, công chức là người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị còn phải thực hiện các nghĩa vụ sau đây:

1. Chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị;

2. Kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn việc thi hành công vụ của cán bộ, công chức;

3. Tổ chức thực hiện các biện pháp phòng, chống quan liêu, tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và chịu trách nhiệm về việc để xảy ra quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong cơ quan, tổ chức, đơn vị;

4. Tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về dân chủ cơ sở, văn hóa công sở trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; xử lý kịp thời, nghiêm minh cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý có hành vi vi phạm kỷ luật, pháp luật, có thái độ quan liêu, hách dịch, cửa quyền, gây phiền hà cho công dân;

5. Giải quyết kịp thời, đúng pháp luật, theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của cá nhân, tổ chức;

6. Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

Theo quy định tại điều 17 công chức năm 2003 , điều 20 luật cán bộ công chức năm 2008, điều 37 luật phòng chống tham nhũng năm 2005 và các qui định khác của pháp luật hiện hành chỉ qui định :” Cán bộ công chức không được thành lập , không được tham gia thành lập , tham gia quản lý điều hành các doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH , công ty cổ phần , công ty hợp danh , HTX, Bệnh viện tư , trường học tư , tổ chức nghiên cứu khoa học tư.

Theo quy định tại khoản 1 điều 17 luật Hợp tác xã năm 2003 :

Điều 17. Điều kiện trở thành xã viên

1. Công dân Việt Nam từ mười tám tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có góp vốn, góp sức, tán thành Điều lệ hợp tác xã, tự nguyện xin gia nhập hợp tác xã có thể trở thành xã viên.

Cán bộ, công chức được tham gia hợp tác xã với tư cách là xã viên theo quy định của Điều lệ hợp tác xã nhưng không được trực tiếp quản lý và điều hành hợp tác xã.

2. Hộ gia đình, pháp nhân có thể trở thành xã viên theo quy định của Điều lệ hợp tác xã. Khi tham gia hợp tác xã, hộ gia đình, pháp nhân phải cử người đại diện có đủ điều kiện như đối với cá nhân tham gia.

3. Cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân có thể là xã viên của nhiều hợp tác xã trong trường hợp Điều lệ hợp tác xã không cấm.

thì cán bộ công chức được tham gia HTX với tư cách xã viên theo qui định điều lệ hợp tác xã nhưng không được trực tiếp quản lý điều hành HTX

Như vậy theo các quy định trên thì pháp luật chỉ qui định cán bộ công chức không được thành lập hoặc tham gia quản lý điều hành các doanh nghiệp, HTX mà không cấm cán bộ công chức đóng góp vốn vào các doanh nghiệp , HTX với tư cách thành viên công ty TNHH, thành viên góp vốn của công ty hợp danh , cổ đông phổ thông của công ty cổ phần và xã viên hợp tác xã.

Câu 5 :Sự khác biệt cơ bản giữa công ty cổ phần , công ty TNHH từ hai thành viên trở lên , thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn vào công ty TNHH từ hai thành viên trở lên

Khái niệm công ty TNHH ( Điều 38 Luật Doanh nghiệp )

Điều 38. Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên
1. Công ty trách nhiệm hữu hạn là doanh nghiệp, trong đó:
a) Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá năm mươi;
b) Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp;
c) Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định tại các điều 43, 44 và 45 của Luật này.
2. Công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
3. Công ty trách nhiệm hữu hạn không được quyền phát hành cổ phần.
Khái niệm về công ty cổ phần : ( Điều 77 Luật doanh nghiệp )

Điều 77. Công ty cổ phần
1. Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:
a) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
b) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa;
c) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
d) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84 của Luật này.
2. Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
3. Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn
thì sự khác biệt cơ bản được thể hiện qua bảng so sánh sau :

Nội dung Công ty cổ phần Công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên
Vốn Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần và được thể hiện dưới dạng tờ phiếu gọi là cổ phiếu Vốn điều lệ không được chia thành những phần bằng nhau và không được thể hiện dưới dạng cổ phiếu
Thành viên Số lượng cổ đông tối thiểu là 3 và không hạn chế số lượng cổ đông tối đa Số lượng thành viên tối đa không vượt quá 50 thành viên
Việc góp vốn Được thực hiện bằng cách mua cổ phần , người mua cổ phần trở thành cổ đông của công ty Việc góp vốn bằng cách các thành viên góp vốn bằng tiền hoặc bằng tài sản khác và góp trực tiếp vào trong công ty . Người góp vốn trở thành thành viên của công ty
Việc chuyển nhượng phần vốn góp Các cổ đông được tư do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác trừ cổ đông nắm giữ cổ phiếu ưu đãi biểu quyết  thì không được chuyển nhượng cổ phiếu ưu đãi biểu quyết cho người khác và cổ đông sáng lập việc chuyển nhượng cổ phần bị hạn chế theo qui định khoản 5 điều 84 luật doanh nghiệp năm 2005 Việc chuyển nhượng phần vốn góp vị hạn chế hơn, Các thành viên công ty chỉ được chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho người không phải thành viên công ty khi các thành viên còn lại không mua hoặc không mua hết phần vốn cần chuyển nhượng
Việc phát hành chứng khoán Được quyền phát hành các loại chứng khoán ( Cổ phiếu , trái phiếu) ra công chúng để công khai huy động vốn Không được phát hành cổ phiếu


Thủ tục góp vốn vào công ty TNHH được qui định bởi điều 29 Luật Doanh nghiệp :

Điều 29. Chuyển quyền sở hữu tài sản
Thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và cổ đông công ty cổ phần phải chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho công ty theo quy định sau đây:
a) Đối với tài sản có đăng ký hoặc giá trị quyền sử dụng đất thì người góp vốn phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản đó hoặc quyền sử dụng đất cho công ty tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Việc chuyển quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn không phải chịu lệ phí trước bạ;
b) Đối với tài sản không đăng ký quyền sở hữu, việc góp vốn phải được thực hiện bằng việc giao nhận tài sản góp vốn có xác nhận bằng biên bản.
c) Cổ phần hoặc phần vốn góp bằng tài sản không phải là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng chỉ được coi là thanh toán xong khi quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản góp vốn đã chuyển sang công ty.
Khi góp đú và đúng hạn số vốn cam kết góp vào công ty , người có vốn góp vào được công ty cấp giấy chứng nhận phần vốn góp.

Câu 6: Tại sao người thực hiện hành vi phòng vệ chính đáng và người gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết được Luật Hình sự qui định không phải là tội phạm ?

Trả lời :

Khái niệm về tội phạm được qui định tại điều 8 Bộ luật hình sự : Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa
Người thực hiện hành vi phòng vệ chính đáng và người gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết được Luật Hình sự qui định không phải là tội phạm là vì :

Theo quy định tại điều 15 bộ luật Hình sự năm 1999 thì phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm , từ điều luật trên cho thấy việc phòng vệ chính đáng được khuyến khích mọi công dân đấu tranh chống lại các hành vi xâm hại đến các quan hệ xã hội , ngăn chặn hoặc hạn chế những thiệt hai do sự xâm hại đó đe doạ gây ra.

Người thực hiện hành vi trong phòng vệ chính đáng là hoàn toàn phù hợp với lợi ích xã hội , hỗ trợ nhà nước trong việc duy trì trật tự xã hội , chống lại những hành vi xâm hại quan hệ xã hội được Bộ luật hình sự bảo vệ.

+ Với chế định phòng về chính đáng , Nhà nước cho phép công dân bảo vệ những quyền , lợi ích chính đáng của mình, của người khác , hay lợi ích của xã hội khi có thể bảo vệ được.

Do vậy người thực hiện hành vi phòng vệ chính đáng và người gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải là tội phạm vì đã loại được tính chất nguy hiểm của hành vi xâm hại cho xã hội nên Luật Hình sự khảng định phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.

Tuy nhiên hành cho được coi là hành động phòng vệ chính đáng khi và chỉ khi thoả mãn các dầy hiệu cơ sở phát sinh , nội dung và phạm vi của quyền phòng vệ chính đáng do Luật hình sự qui định.

Theo quy định tại điều 16 Bộ luật Hình sự thì Tình thế cấp thiết
1. Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe doạ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.
Hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải là tội phạm.
2. Trong trường hợp thiệt hại gây ra rõ ràng vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết, thì người gây thiệt hại đó phải chịu trách nhiệm hình sự.
Từ điều luật trên cho thấy : Tình thế cấp thiết là tình thế của người đứng trướcsự đe doạ đến lợi ích được pháp luật bảo vệ , đồng thời muốn bảo vệ lợi ích này người ta không còn cách nào khác phải gây ra một thiệt hại cho một lợi ích khác cũng được pháp luật bảo vệ nhưng nhỏ hơn lợi ích được pháp luật bào vệ.

Luật hình sự Việt Nam , người được coi là đã hành động trong tình thế cấp thiết khi người đó đã biết hi sinh một cách hợp lý , một lợi ích nhỏ để bảo vệ một lợi ích khác lớn hơn , cần thiết hơn.

Chính vì vật , tính hợp lý này mà về mặt xã hội chúng ta coi hành động trong tình thế cấp thiết là hành động có ích. , còn về mặt hình sự thì hành động trong tình thế cấp thiết đã loại trừ được tính nguy hiểm của hành vi cho xã hội. Vì vậy Luật hình sự khẳng định không phải là tội phạm

Lưu ý : Người được coi là hành động trong tình thế cấp thiết khi và chỉ khi thoả mãn các điều kiện của Luật Hình sự qui định


Bài tập tình huống :

Bài 1 : Nhận xét về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của chủ tịch UBND xã A theo qui định tại khoản 2 điều 28 pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 sửa đổi thì chủ tịch UBND cấp xã có quyềnbuộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra.

Theo qui định tại mục a khoản 1 điều 8 nghị định 182/2004-CP qui định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai thì :

+ Mức độ hậu quả của hành vi vi phạm hành chính được xác định theo nguyên tắc qui đổi giá trị sử dụng đối với diện tích đất bị vi phạm thành tiền theo giá đất  do UBND Tỉnh , thành phố trực thuộc trung ương có đất đỏ qui định và chia thành  mức sau đây :

Mức 1: Trường hợp giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị vi phạm qui thành tiền có giá trị dưới 10 triệu đồng đối với đất phi nông nghiệp

Theo qui định tại mục a khoản 2 điều 10 nghị định nêu trên thì phạt tiền từ 100.000 đến 500.000 nếu hậu quả của hành vi thuộc mức 1

Căn cứ vào các quy định nêu trên cho thấy quyết định xử phạt vi phạm hành chính của chủ tịch UBND xã Q là hoàn toàn đúng thẩm quyền và phù hợp với qui định tại khoản 2 điều 57 pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính nêu trên ( Xử phạt trong trường hợp có tình tiết tăng nặng) Tại mục a khoản 1 điều 8 và mục a khoản 2 điều 10 nghị định 182/2004 nêu trên . Theo dữ liệu đề bài có 3 mối quan hệ pháp luật hành chính phát sinh sau đây :

+ Mối quan hệ giữa chủ tịch UBND xã Q và B :

Chủ thể : Chủ tịch UBND xã Q là chủ thể bắt buộc

B là chủ thể thường

Cơ sở phát sinh : Hành vi vi phạm của B

Khách thể : Trật tự quản lý nhà nước về đất đai

+ Mối quan hệ giữa chủ tịch UBND xã Q và B  phát sinh khi có đơn khiếu nại của B đến UBND xã

Chủ thể : Chủ tịch UBND xã Q là chủ thể bắt buộc

B là chủ thể thường

Cơ sở phát sinh : Hành vi khiếu nại của B

Khách thể : Trật tự quản lý nhà nước về giải quyết khiếu nại

+ Mối quan hệ giữa chủ tịch UBND huyện H và B  phát sinh khi có đơn khiếu nại của B đến UBND huyện

Chủ thể : Chủ tịch UBND Huyện H là chủ thể bắt buộc

B là chủ thể thường

Cơ sở phát sinh : Hành vi khiếu nại của B

Khách thể : Trật tự quản lý nhà nước về giải quyết khiếu nại

Bài tập 2:

Theo qui định điều 641 Luật dân sự. theo điều 676 Luật dân sự mục a năm 2005 và điều 677 Luật dân sự năm 2005 :

Từ 3 điều luật nêu trên cho thấy việc phân chia thừa kế gia đình bà B được thực hiện như sau :

Phân chia di sản thừa kế của ông A :

+ xác định thừ kế theo pháp luật thuộc hàng thừa kế thứ nhất của Ông A.,

Theo qui định tại mục a điều 676 bộ luật dân sự nêu trên thì người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của Ông A gồm : Bà Q ( mẹ ông A), bà B ( Vợ Ông A) và 2 con C,D( Con ông A)

Tuy nhiên trong trường hợp này vì C đã chết cùng thời điểm với ông A nên theo qui định tại điều 677 của Bộ luật dân sự thì 2 con của C là M và N được thế vào vị trí của C để hưởng phần di sản mà C nếu còn sống sẽ được hưởng :

+ xác định di sản thừa kế :

áp dụng luật chia đôi tài sản của Ông A và bà B là 2 tỷ thì ông A có  tài sản sau khi chia là 1 tỷ và 200 triệu đồng tài sản riêng . Tổng di sản thừa kế là 1tỷ 200 triệu đồng.

Trong trường hợp này mỗi người được hưởng phần di sản thừa kế của Ông A là :

Bà Q : 300 triệu             Bà B : 300 triệu    D: 300 triệu          M,N mỗi người 150 triệu

Phân chia di sản thừa kế C:

+ xác định thừa  kế theo pháp luật thuộc hàng thừa kế thứ nhất của C :

Theo qui định tại mục a điều 676 bộ luật dân sự nêu trên thì người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của C gồm : Mẹ A ( bà B), H ( Vợ C)  và 2 con M,N ( Con C)

+ xác định di sản thừa kế :

áp dụng luật chia đôi tài sản của C và D là 1,6 tỷ thì C có  tài sản sau khi chia là 800 triệu đồng.

Trong trường hợp này mỗi người được hưởng phần di sản thừa kế của Clà :

Bà B : 200 triệu                       H: 200 triệu                   M: 200 triệu                   N : 200 triệu


Tổng số tiền từng người được hưởng di sản thừ kế là :

Bà Q: 300 triệu              Bà B : 500 triệu             D: 300 triệu

H : 200 triệu                  M :350 triệu                   N : 350 triệu

Bài tập 3 : Theo qui định điều 11 luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì việc kết hôn phải được đăng ký và chứng nhận bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo nghi thức qui định tại điều 14 luật hôn nhân và gia đình

Mọi nghi thức kết hôn không theo qui định tại điều 14 luật hôn nhân gia đình nói trên đều không có giá trị pháp lý.

Nam nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng

Căn cứ vào quyết định nêu trên thì :

+ A-H là vợ chồng vì A và H đã đăng ký ở UBND xã do vậy cuộc hôn nhân là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ

+ A- C không phải là vợ chồng vì A và C không đăng ký kết hôn theo nghi thức luật định mà chỉ chung sống với nhau như vợ chồng cho lên không được pháp luật thừa nhận là vợ chồng.

Tuy nhiên theo qui định tại điều43 Luật dân sự năm 2005 về quyền nhận , không nhận cha mẹ , con thì :

+ Người không được nhận là cha mẹ , con của người khác có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định  mình là cha , mẹ hoặc con của người đó.

+ Người được nhận là cha mẹ con của người khác có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định mình không phảilà cha mẹ hoặc con của người đó.

từ điều luật trên cho thấy : Cháu trai con C, thông qua người đại diện theo pháp luật có quyền yêu cầu toà án xác định A là cha đẻ của mình.Ngược lại A cũng có quyền yêu cầu  xác định mình là cha hoặc không phải là cha của con C.

Tải file đính kèm tại đây!

(ST)

Bài viết liên quan:

Bình luận

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Anti-spam: complete the taskWordPress CAPTCHA