Quantcast
Sống tốt cho môi trường là sống tốt cho chính mình! Những hạn chế, bất cập cơ bản của luật bảo vệ môi trường năm 2005 và yêu cầu sửa đổi, bổ sung (Phần II) - Giải Pháp Môi Trường - Sống tốt cho môi trường là sống tốt cho chính mình!

Những hạn chế, bất cập cơ bản của luật bảo vệ môi trường năm 2005 và yêu cầu sửa đổi, bổ sung (Phần II)

Luật Bảo vệ môi trường(Luật BVMT) được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/2006. Quá trình triển khai thực hiện Luật BVMT trong gần 5 năm qua đã đạt được những kết quả tích cực, góp phần quan trọng trong công tác BVMT ở nước ta. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, các quy định của Luật BVMT cùng các quy định pháp luật liên quan đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập cả về thể chế và thực tiễn thi hành. Vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung Luật BVMT là yêu cầu cấp thiết để tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác BVMT ở nước ta trong thời gian tới.

Trong số tháng 2/2011, Tạp chí đã giới thiệu bài viết của PGS.TS Phạm Văn Lợi, phần thứ nhất: “Những bất cập, hạn chế cơ bản của Luật BVMT 2005”, trong số này chúng tôi xin giới thiệu phần thứ hai: “Quan điểm, yêu cầu sửa đổi, bổ sung Luật BVMT 2005”. Phần thứ ba: “Những kiến nghị cụ thể về sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật BVMT và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan” sẽ được giới thiệu trong số tháng 4/2011.

Rất mong nhận được sự quan tâm, trao đổi và đóng góp ý kiến của Bạn đọc.

Ban Biên tập

QUAN ĐIỂM, YÊU CẦU SỬA ĐỔI, BỔ SUNG LUẬT BVMT 2005

Để khắc phục những hạn chế, bất cập của Luật BVMT 2005, vấn đề đặt ra là cần khẩn trương sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật BVMT và các quy định pháp luật liên quan, kết hợp với việc hoàn thiện các công cụ, chính sách để nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ và cải thiện môi trường, phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội. Việc sửa đổi, bổ sung Luật BVMT cần bám sát các quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước về công tác BVMT. Các quan điểm cơ bản là:

- BVMT vừa là mục tiêu, vừa là một trong những nội dung cơ bản của phát triển bền vững, phải được thể hiện trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế – xã hội của từng ngành và từng địa phương. Khắc phục tư tưởng chỉ chú trọng phát triển kinh tế – xã hội mà coi nhẹ BVMT. Đầu tư cho BVMT là đầu tư cho phát triển bền vững.

- BVMT là một trong những vấn đề sống còn của nhân loại; là nhân tố bảo đảm sức khoẻ và chất lượng cuộc sống của nhân dân; góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế – xã hội, ổn định chính trị, an ninh quốc gia và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta.

- BVMT là quyền lợi và nghĩa vụ của mọi tổ chức, mọi gia đình và của mỗi người, là biểu hiện của nếp sống văn hoá, đạo đức, là tiêu chí quan trọng của xã hội văn minh và là sự nối tiếp truyền thống yêu thiên nhiên, sống hài hoà với tự nhiên của ông cha ta.

- BVMT phải theo phương châm lấy phòng ngừa và hạn chế tác động xấu đối với môi trường là chính, kết hợp với xử lý ô nhiễm, khắc phục suy thoái, cải thiện môi trường và bảo tồn thiên nhiên; kết hợp giữa sự đầu tư của Nhà nước với đẩy mạnh huy động nguồn lực trong xã hội và mở rộng hợp tác quốc tế; kết hợp giữa công nghệ hiện đại với các phương pháp truyền thống.

- BVMT là nhiệm vụ vừa phức tạp, vừa cấp bách, có tính đa ngành và liên vùng rất cao, vì vậy cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của các cấp uỷ đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước, sự tham gia tích cực của Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể nhân dân.

Trên cơ sở các quan điểm trên, việc sửa đổi, bổ sung Luật BVMT phải góp phần thực hiện mục tiêu về môi trường được đề ra trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011 — 2020 được thông qua tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI: “Cải thiện chất lượng môi trường. Đến năm 2020, tỉ lệ che phủ rừng đạt 45%. Hầu hết dân cư thành thị và nông thôn được sử dụng nước sạch và hợp vệ sinh. Các cơ sở sản xuất kinh doanh mới thành lập phải áp dụng công nghệ sạch hoặc trang bị các thiết bị giảm ô nhiễm, xử lý chất thải; trên 80% các cơ sở sản xuất kinh doanh hiện có đạt tiêu chuẩn về môi trường. Các đô thị loại 4 trở lên và tất cả các cụm, khu công nghiệp, khu chế xuất có hệ thống xử lý nước thải tập trung. 95% chất thải rắn thông thường, 85% chất thải nguy hại và 100% chất thải y tế được xử lý đạt tiêu chuẩn. Cải thiện và phục hồi môi trường các khu vực bị ô nhiễm nặng. Hạn chế tác hại của thiên tai; chủ động ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu, nhất là nước biển dâng”.

Trên cơ sở các quan điểm, mục tiêu nêu trên, việc sửa đổi, bổ sung Luật BVMT cần đáp ứng các yêu cầu, định hướng cơ bản sau đây:

1. Sửa đổi, bổ sung Luật BVMT cần dựa trên những đánh giá, dự báo về tình hình môi trường và quá trình phát triển kinh tế xã hội, hội nhập quốc tế.

Môi trường là vấn đề có tính toàn cầu, vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung Luật BVMT cần phải dựa trên những đánh giá, dự báo sát thực không chỉ đối với môi trường Việt Nam mà còn đối với những vấn đề môi trường có tính toàn cầu đang diễn ra phức tạp. Ví dụ như: vấn đề biến đổi khí hậu, hiện tượng nước biển dâng, suy thoái đa dạng sinh học, ô nhiễm xuyên biên giới, suy thoái môi trường biển, các nguồn tài nguyên đứng trước nguy cơ bị khai thác can kiệt, thiếu tính bền vững…Chính vì vậy, Luật BVMT được sửa đổi, bổ sung cần dựa trên sự đánh giá về nguy cơ do biến đổi khí hậu gây ra đối với môi trường Việt Nam và chiến lược ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam; những ảnh hưởng của quá trình phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế; dự báo nhu cầu điều chỉnh pháp luật nhằm bảo vệ hiệu quả các thành tố môi trường tự nhiên và xã hội (môi trường đất, môi trường nước, môi trường không khí, môi trường đô thị và công nghiệp, đa dạng sinh học…).

2. Sửa đổi, bổ sung Luật BVMT phải tạo cơ sở pháp lý hữu hiệu, đồng bộ và khả thi cho việc bảo vệ và cải thiện môi trường.

Quá trình sửa đổi, bổ sung Luật BVMT phải bám sát các nguyên tắc cơ bản là: đảm bảo sự phát triền bền vững kết hợp hài hòa giữa việc sử dụng, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên với BVMT; người gây ô nhiễm phải trả tiền; xử lý ô nhiễm tại nguồn; khuyến khích việc xã hội hoá công tác BVMT; đẩy mạnh việc sử dụng các công cụ kinh tế trong BVMT, trong đó có việc sử dụng các công cụ phí, lệ phí, thuế môi trường, quyền phát thải; các văn bản quy phạm pháp luật về BVMT cần đảm bảo tính toàn diện, thống nhất, đồng bộ, phù hợp, ổn định và tương thích với pháp luật quốc tế và đảm bảo tính khả thi của các quy định pháp luật. Việc sửa đổi, bổ sung Luật BVMT phải gắn với việc hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật trong các lĩnh vực có liên quan.

3. Sửa đổi, bổ sung Luật BVMT phải tạo cơ sở pháp lý cho việc hoàn thiện mô hình, kiện toàn cơ cấu tổ chức, phân công, phân cấp hợp lý và quy định rõ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn cũng như mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước về BVMT và các cơ quan có liên quan để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về BVMT.

Việc hoàn thiện mô hình, cơ cấu tổ chức về BVMT cần đảm bảo tính minh bạch về chức năng, nhiệm vụ; tính tương xứng thẩm quyền và chức năng, nhiệm của của các cơ quan được giao thực thi pháp luật về BVMT và tạo điều kiện cho việc mở rộng hợp tác quốc tế, thực thi các cam kết quốc tế và nội luật hóa các kinh nghiệm quốc tế theo các tiêu chí phổ quát về BVMT.

4. Sửa đổi, bổ sung Luật BVMT phải tạo cơ sở pháp lý cho việc tăng cường công tác thông tin, truyền thông, kiểm tra, thanh tra, giám sát, xử phạt trong quá trình thực thi các điều cấm.

Các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường cần phải tạo cơ sở pháp lý hiệu quả cho việc nâng cao ý thức BVMT trong cộng đồng; đảm bảo tính nghiêm minh trong xử lý vi phạm; tạo cơ chế thông tin, phối hợp minh bạch và hiệu quả giữa các chủ thể có thẩm quyền và các chủ thể có nghĩa vụ thực thi pháp luật về BVMT (ví dụ như: tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin để quản lý quy trình, quản lý số liệu liên quan đến BVMT từ cả phía cơ quan có thẩm quyền và tổ chức, cá nhân tuân thủ); nâng cao hiệu quả công tác theo dõi thi hành pháp luật về BVMT và tăng cường năng lực kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm đối với các hành vi vi phạm pháp luật về BVMT.

5. Sửa đổi, bổ sung Luật BVMT phải thực hiện đồng bộ với các giải pháp, biện pháp đảm bảo các điều kiện về cơ sở vật chất, nguồn lực con người; công nghệ, phương tiện và tài chính để tổ chức thực thi có hiệu quả các quy định pháp luật về BVMT.

Các giải pháp, biện pháp cần thực hiện để đảm bảo thực thi hiệu quả các quy định pháp luật về BVMT là: Chú trọng đầu tư, đảm bảo các điều kiện nguồn lực con người, tài chính, khoa học – công nghệ trong việc giám sát việc thực thi các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường; ngăn ngừa, xử lý và khắc phục hậu quả của các hành vi vi phạm pháp luật về BVMT; bổ sung nguồn nhân lực, có cơ chế đào tạo, thu hút đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác BVMT; Hỗ trợ trang thiết bị phục vụ cho công tác thanh tra, kiểm tra thực thi pháp luật và đấu tranh phòng, chống các tội phạm về môi trường; Xây dựng các cơ chế, chính sách ưu đãi khuyến khích công tác xã hội hóa BVMT và khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư cho công tác BVMT và cải cách, đơn giản hóa các thủ tục hành chính, ban hành các cơ chế, chính sách tạo điều kiện để các cá nhân, doanh nghiệp tiếp cận với các chính sách ưu đãi để thực hiện việc xã hội hóa công tác BVMT./.

(Xem tiếp số sau: Những kiến nghị cụ thể về sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật BVMT và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan)

PGS.TS Phạm Văn Lợi

Viện trưởng Viện Khoa học quản lý môi trường

 

Theo Vea.gov.vn/TCMT 03/2011

Bài viết liên quan:

Bình luận

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Anti-spam: complete the taskWordPress CAPTCHA